TIN HOẠT ĐỘNG

VĂN BẢN

TƯ LIỆU

Ý kiến cử tri - Ý kiến Đại biểu

GIỚI THIỆU VỀ CAO BẰNG

LIÊN KẾT

THỐNG KÊ

Đang truy cậpĐang truy cập : 14


Hôm nayHôm nay : 2932

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 2932

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 8311427

Công báo Cao Bằng
Thủ tục hành chính Cao Bằng
Cổng thông tin Cao Bằng

Trang nhất » Tin hoạt động » Hoạt động của Đoàn ĐBQH

Các ông La ngọc Thoáng, Phùng Văn Hùng đại biểu Quốc hội tỉnh Cao Bằng tham gia phát biểu thảo luận về tình hình KT-XH năm 2014 và tái cơ cấu nền kinh tế

Chủ nhật - 02/11/2014 16:45
         Ngày 31/10 và 01/11/2014 Quốc hội thảo luận tại hội trường về tình hình kinh tế xã hội năm 2014 và nhiệm vụ năm 2015; việc thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế trong lĩnh vực đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước và hệ thống ngân hàng theo Nghị quyết số 10/2011/QH13 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội  năm 2011 – 2015;  Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân điều hành thảo luận. Các ông La ngọc Thoáng, Phùng Văn Hùng đại biểu Quốc hội tỉnh Cao Bằng tham gia phát biểu thảo luận.

       * Ngày 31/10/2014: Tham gia phát biểu thảo luận về tình hình kinh tế xã hội năm 2014 và nhiệm vụ năm 2015, ông La Ngọc Thoáng – Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Cao Bằng tán thành với báo cáo của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban kinh tế và cho rằng: Trong năm 2014 Chính phủ đã có nhiều nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn để đạt được những kết quả quan trọng về kinh tế xã hội. Kinh tế vĩ mô đã có những tín hiệu tích cực, lạm phát được kiểm soát chặt chẽ, chất lượng tăng trưởng đã từng bước được nâng lên; ba đột phá chiến lược và ba lĩnh vực trọng tâm của tái cơ cấu đã được triển khai quyết liệt và đồng bộ. Như vậy chúng ta sẽ đạt được các mục tiêu tổng quát của năm 2014 trong đó quan trọng nhất là giữ được ổn định kinh tế vĩ mô, trong khi vẫn giữ được mức tăng trưởng hợp lý.


Đại biểu La Ngọc Thoáng tham gia thảo luận về tình hình KT-XH năm 2014,
nhiệm vụ năm 2015.

         Có được kết quả như vậy, theo đại biểu chính sách tiền tệ là chính sách có vai trò quyết định, được Chính phủ điều hành linh hoạt, thận trọng, phù hợp với điều kiện kinh tế Việt Nam, lấy kiểm soát lạm phát làm mục tiêu nhưng đồng thời cũng giữ dư địa cho tăng trưởng, đây là một việc làm khó, không phải dễ nhưng chúng ta đã làm được. Đồng thời tỷ giá được điều hành một cách chủ động nhằm định hướng thị trường và đưa ra các cam kết duy trì ổn định tỷ giá trong từng thời kỳ để kiểm soát; Sự kiên định về mục tiêu, tính nhất quán và đồng bộ trong phối hợp các giải pháp cũng đã làm cho tỷ giá trở nên dễ dự báo hơn, nhờ đó nâng cao lòng tin vào đồng Việt Nam. Đó cũng chính là cơ sở để dự trữ ngoại hối nhà nước của chúng ta tăng mạnh ở mức kỷ lục Chính việc giữ tỷ giá hối đoái ổn định đã góp phần hỗ trợ xuất khẩu, một lĩnh vực đang được xem là điểm sáng của nền kinh tế; Đồng thời, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, một trong những nguyên nhân quan trọng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quay trở lại nước ta tăng mạnh trong thời gian gần đây.

       Tuy nhiên, theo đại biểu mặc dù tình hình kinh tế vĩ mô đã có những chuyển biến tích cực và từng bước ổn định, song không thể chủ quan bởi những khó khăn thách thức vẫn còn tiềm ẩn, đó là: tổng cầu thấp đang tiếp tục làm khó cho tăng trưởng; thâm hụt ngân sách còn lớn; khối lượng trái phiếu Chính phủ phát hành tăng lên; kinh tế phát triển chậm; nợ xấu của các tổ chức tín dụng còn cao chưa thể giải quyết được; thu ngân sách tăng chậm.

         Từ những vấn đề trên đại biểu La Ngọc Thoáng đề nghị:

         Một là: Chính phủ cần có những chính sách quyết liệt đồng bộ hơn nữa; phải đảm bảo sự kết hợp chặt chẽ, thống nhất, hiệu quả giữa các chính sách vĩ mô, đặc biệt là hai chính sách: tài khóa và tiền tệ.
Thực tiễn cho chúng ta thấy rằng, nền kinh tế khó có thể phục hồi nếu chỉ dựa vào một chính sách mà thiếu đi các chính sách đồng bộ khác, bên cạnh đó Chính phủ cần phải xây dựng các giải pháp chiến lược dài hạn để đảm bảo thực hiện mục tiêu ổn định và phát triển bền vững.

        Hai là: Chính sách điều hành cần tiếp tục có các giải pháp hỗ trợ tăng tổng cầu, nhất là cầu đầu tư, tất nhiên ở đây cả đầu tư công và đầu tư tư nhân. Với đầu tư công, cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ, nhất là đối với các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng nông thôn miền núi, nhóm ngành nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản.
Ba là: Thúc đẩy đầu tư tư nhân, đồng thời nỗ lực thực hiện giải phóng cắt giảm chi phí sản xuất, nhất là chi phí liên quan đến thủ tục hành chính, sử dụng các quỹ hỗ trợ bảo lãnh vay cho các doanh nghiệp.

         Tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, hiệu quả, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, nhằm mục tiêu là tiếp tục kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Điều hành lãi suất phù hợp với các diễn biến kinh tế vĩ mô và đặc biệt là lạm phát để điều tiết thị trường ở mức hợp lý, góp phần ổn định thị trường tiền tệ, đảm bảo ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam, tăng dự trữ ngoại hối.

       Bốn là: Triển khai các giải pháp tín dụng để tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đáp ứng vốn cho nền kinh tế, kịp thời xử lý các khó khăn vướng mắc về cơ chế chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng tín dụng.

        Năm là: Trong điều kiện hiện nay, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn khó khăn, nhất là khi khả năng quản trị, cạnh tranh của các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Để tháo gỡ cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững không chỉ thực hiện các giải pháp trong ngắn hạn, mà cần triển khai quyết liệt các biện pháp tái cơ cấu doanh nghiệp, trong đó phải đổi mới mô hình hoạt động, quản trị các doanh nghiệp theo hướng có hiệu quả hơn; cần đẩy mạnh tái cơ cấu các tổ chức tín dụng đặc biệt các tổ chức tín dụng hoạt động kém hiệu quả.

        Sáu là: Về xử lý nợ xấu: Nợ xấu là vấn đề lớn của nền kinh tế, chỉ có cố gắng của ngành ngân hàng không thể giải quyết được. Tôi đề nghị cần có sự tham gia, hỗ trợ tích cực của các cơ quan bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, đặc biệt trong phục hồi, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, xử lý hàng tồn kho, xử lý nợ trong xây dựng cơ bản, thúc đẩy đầu tư, tiêu dùng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp này mới mong đạt được kết quả.

       * Ngày 01/11/2014, tham gia thảo luận về vấn đề tái cơ cấu nền kinh tế: Đại biểu Phùng Văn Hùng cho rằng: Trong năm 2014, mặc dù còn rất nhiều khó khăn nhưng nền kinh tế của Việt Nam đã bắt đầu phục hồi và có bước phát triển. Kết quả đó có vai trò tích cực của tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng.


Đại biểu Phùng Văn Hùng tham gia thảo luận về tái cơ cấu nền kinh tế

          Đại biểu cũng thể hiện sự tán thành với đánh giá về kết quả đạt được và những hạn chế được nêu ra trong Dự thảo Báo cáo giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Về chính sách pháp luật, ta đã và đang hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các mục tiêu của quá trình tái cơ cấu. Kết quả là trong lĩnh vực đầu tư công, đầu tư dàn trải về cơ bản đã được khắc phục; phân bổ nguồn vốn nhà nước tập trung hơn; quy trình thủ tục quyết định đầu tư được xây dựng chặt chẽ, rõ ràng minh bạch hơn; trách nhiệm cá nhân và tổ chức liên quan đã được xác định. Đối với tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước quá trình sắp xếp lại và cổ phần hoá doanh nghiệp đang được đẩy mạnh. Các doanh nghiệp nhà nước sẽ được cơ cấu lại theo hướng thu hẹp phạm vi hoạt động, tập trung vào những lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước hoặc những lĩnh vực mà khu vực tư nhân không làm; Công tác quản lý vốn nhà nước trong các doanh nghiệp sẽ có những thay đổi căn bản trên cơ sở tôn trọng qui luật thị trường; vai trò trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước cũng được xác định rõ ràng hơn.  Đối với lĩnh vực ngân hàng, thành công lớn nhất là ta đã đẩy lùi được nguy cơ đổ vỡ của các ngân hàng yếu kém; các giải pháp cơ cấu lại các ngân hàng đang được tích cực triển khai như cổ phần hoá, sát nhập, hợp nhất, mua lại, thoái vốn của DNNN trong các ngân hàng; cơ cấu lại nợ xấu, trích quĩ dự phòng rủi ro, bán nợ cho VAMC. Những giải pháp nêu trên kết hợp với những chính sách tiền tệ thích hợp đã góp phần đáng kể vào quá trình phục hồi kinh tế.

     Mặc dù vậy theo đại biểu Phùng Văn Hùng, đối chiếu với mục tiêu tổng quát của Nghị quyết 10/2011/QH13 về phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 cho thấy tốc độ triển khai tái cơ cấu còn khá chậm so với yêu cầu. Đã gần 4 năm trôi qua, những tồn tại yếu kém của nền kinh tế chưa được giải quyết triệt để. Nợ công tăng nhanh và sắp chạm mốc báo động; nợ xấu chưa được đẩy lùi và có nguy cơ tăng trở lại; trong khi ngân hàng thừa thanh khoản thì doanh nghiệp lại khó tiếp cận được tín dụng; số doanh nghiệp phá sản và giải thể tăng cao. Sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp đứng ở vị trí 68 trong số 144 nền kinh tế được xếp hạng. Tốc độ tăng trưởng trung bình của cả 4 năm chỉ vào khoảng 5,67% thấp hơn nhiều so với kế hoạch 6,5-7%. Trong khi nhiều nước xung quanh ta đã mau chóng vượt qua giai đoạn khủng hoảng và lấy lại đà tăng trưởng.Đi sâu phân tích nội dung này, đại biểu cho rằng:

         Hạn chế đầu tiên phải kể đến là công tác chỉ đạo thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ: Báo cáo của Chính phủ còn thiếu phần đánh giá công tác chỉ đạo chung của Chính phủ - đây là yếu tố có tính chất quyết định đến  hiệu quả của tái cơ cấu. Xét về nguyên tắc, Đề án tổng thể phải là nền tảng, là cơ sở cho việc xây dựng các Đề án thành phần. Việc Đề án tổng thể tái cơ cấu mãi đến tháng 2 năm 2013 mới được ban hành đã có ảnh hưởng không nhỏ tới công tác định hướng cũng như tiến độ thực hiện tái cơ cấu;  Tái cơ cấu quan trọng là vậy nhưng không có một cơ quan thường trực thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra và tư vấn cho các cơ quan, ban ngành và địa phương ngay từ đầu nên mỗi ngành, mỗi lĩnh vực và mỗi địa phương thực hiện theo cách hiểu của mình. Nền kinh tế là một thể thống nhất, việc tập trung ưu tiên vào ba lĩnh vực trọng điểm là cần thiết, nhưng  không thể không tiến hành đồng thời tái cơ cấu lao động, tái cơ cấu bộ máy nhà nước, tái cơ cấu kinh tế vùng, tái cơ cấu ngành nông nghiệp… Ngoài ra, tư tưởng tái cơ cấu là công việc của trung ương còn khá phổ biến nên việc triển khai cũng như kết quả đạt được của tái cơ cấu ở các địa phương còn mờ nhạt.

        Hạn chế thứ hai đó là, việc triển khai tái cơ cấu thiếu sự quyết liệt; Chưa có sự thống nhất trong nhận thức về tái cơ cấu; chưa có sự tham gia của toàn xã hội:

       Tái cơ cấu thực chất là một cuộc cải cách đòi hỏi phải có sự đột phá. Mặc dù Đề án tổng thể đã có chủ trương thực hiện quyết liệt, hiệu quả các trọng tâm tái cơ cấu kinh tế nhưng tinh thần này lại không được quán triệt chỉ đạo một cách cương quyết trong quá trình thực hiện. Ví dụ như trong tái cơ cấu các DNNN năm 2011 cổ phần hóa được có 12 doanh nghiệp, năm 2012 được 13 doanh nghiệp, năm 2013 được 74 doanh nghiệp, để rồi kế hoạch cổ phần hoá 2014-2015 phải gánh tới 432 doanh nghiệp;  trong lĩnh vực ngân hàng, việc tái cơ cấu mới chỉ đề cập tới một số ngân hàng yếu kém trên tinh thần tự nguyện, chưa mang tính tổng thể cho cả hệ thống ngân hàng thương mại; hầu hết các giải pháp đưa ra là những giải pháp ta phải làm thường xuyên. Mô hình VAMC là một sáng kiến hay nhưng lại chưa có cơ chế hoạt động phù hợp nên cũng chưa phát huy được tác dụng. Mặt khác, tái cơ cấu phải là nhiệm vụ của toàn xã hội, trong đó nhà nước ngoài việc tổ chức thực hiện tái cơ cấu một số lĩnh vực trọng điểm thì còn phải đóng vai trò là người định hướng, là người phát động, hướng dẫn và cổ vũ để cả hệ thống chính trị có cùng một nhận thức, một cách hiểu và cùng vào cuộc. Có như vậy thì tái cơ cấu mới thực sự thành công thông qua sự thành công của chính mỗi tổ chức và mỗi cá nhân. Nhưng đáng tiếc là nhà nước lại chưa làm được việc này.

         Hạn chế thứ ba: Chưa có cơ chế kiểm tra giám sát hữu hiệu: Đại biểu cho rằng, công tác kiểm tra và giám sát cũng là một yếu tố quan trọng. Giám sát, kiểm tra để đảm bảo tái cơ cấu được thực hiện đúng theo chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, kịp thời chấn chỉnh những sai phạm nếu có; Giám sát, kiểm tra còn để hỗ trợ các tổ chức, cá nhân về nhận thức cũng như tìm ra giải pháp tái cơ cấu phù hợp cho mình; Giám sát còn giúp cho hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật đảm bảo tái cơ cấu đạt được những mục tiêu đã đề ra. Tái cơ cấu là cải cách và đổi mới, nhất là trong điều kiện thời gian hạn hẹp 5 năm từ 2011-2015, mục tiêu mà Nghị quyết của Quốc hội đặt ra rất lớn.

          Từ những phân tích trên, đại biểu bày tỏ sự đồng tình với 10 đề xuất đưa ra trong báo cáo giám sát của UBTVQH. Đồng thời đề nghị một số giải pháp cụ thể để Quốc hội xem xét:

         Một là:  Chính phủ thành lập ngay Nhóm công tác về tái cơ cấu đứng đầu là một đồng chí Phó thủ tướng chịu trách nhiệm chỉ đạo,  đôn đốc, kiểm tra việc triển khai Đề án tổng thể TCC; hàng quý có báo cáo công tác tại phiên họp của Chính phủ;

        Hai là: Hàng năm Chính phủ báo cáo trước Quốc hội về kết quả TCC nền kinh tế tại kỳ họp cuối năm;

         Ba là: Về vấn đề nợ xấu, mua bán nợ xấu cũng là một lĩnh vực kinh doanh, có thể thu hút được các nhà đầu tư trong và ngoài nước nếu có cơ chế phù hợp. Tôi đề nghị Chính phủ xây dựng cơ chế, chính sách phát triển thị trường mua bán nợ phù hợp với thông lệ quốc tế để thu hút được nguồn lực không nhỏ từ xã hội.

         Bốn là: Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng mạnh hơn nữa thông qua cơ cấu lại và sát nhập các tổ chức tín dụng có sự tham gia của cả những ngân hàng mạnh./.
 

Tác giả bài viết: Đoàn Trọng Hùng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Trả lời cử tri

Chuyên mục cơ quan Dân cử và Cử tri

(video) :

Người tốt việc tốt
Quốc hội
Báo đại biểu nhân dân

THƯ VIỆN ẢNH