TIN HOẠT ĐỘNG

VĂN BẢN

TƯ LIỆU

Ý kiến cử tri - Ý kiến Đại biểu

GIỚI THIỆU VỀ CAO BẰNG

LIÊN KẾT

THỐNG KÊ

Đang truy cậpĐang truy cập : 26


Hôm nayHôm nay : 3617

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 10030

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 8318525

Công báo Cao Bằng
Thủ tục hành chính Cao Bằng
Cổng thông tin Cao Bằng

Trang nhất » Tin hoạt động » Hoạt động của Đoàn ĐBQH

Ông La Ngọc Thoáng – Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Cao Bằng tham gia thảo luận Luật đất đai sửa đổi

Thứ sáu - 22/11/2013 05:00
Ngày 22/11, Quốc hội làm việc tại hội trường thảo luận về dự thảo Luật đất đai (sửa đổi), ông La Ngọc Thoáng – Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Cao Bằng đã tham gia phát biểu ý kiến.

Ông La Ngọc Thoáng phát biểu tại Hội trường góp ý Luật đất đai sửa đổi

Góp ý về Quy hoạch đất đai: đại biểu cho rằng, đất đai là nguồn tài nguyên to lớn của mỗi quốc gia, có thể đóng góp rất tích cực và hiệu quả cho phát triển kinh tế của đất nước. Để đất có thể trở thành nguồn lực thực sự, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc làm cho đất được sử dụng có hiệu quả. Dự thảo Luật đất đai lần này đã có bước tiến bộ đáng kể về nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Luật đã quy định một hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bài bản từ trung ương xuống địa phương gồm cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện và hai cấp còn lại là quốc phòng và an ninh đi kèm với những yêu cầu rất chặt chẽ về căn cứ, nhu cầu cũng như khả năng đầu tư để thực hiện quy hoạch, kế hoạch. Đặc biệt, tại điều 43, Dự thảo luật còn yêu cầu cơ quan tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có trách nhiệm phải tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Theo khoản 1, điều 43, cơ quan tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Tuy nhiên đại biểu La Ngọc Thoáng băn khoăn về tính khả thi của quy định này vì nó chưa đủ mạnh, mà mới chỉ dừng lại ở chỗ “có trách nhiệm” không có giá trị bắt buộc nên làm cũng được, không làm cũng chẳng sao; và trong luật chưa có các chế tài cần thiết đối với tổ chức cơ quan liên quan không lấy ý kiến nhân dân hoặc không thực hiện đúng quy định, trình tự, thủ tục lấy ý kiến nhân dân. Do vậy, đại biểu đề nghị thay cụm từ “có trách nhiệm” bằng cụm từ “có nghĩa vụ” và bổ sung vào Điều 43 quy định như sau: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không có hiệu lực thực hiện khi không được đưa ra lấy ý kiến nhân dân hoặc thực hiện không đúng quy trình, trình tự, thủ tục lấy ý kiến người dân. Ngoài ra đề nghị cần bổ sung quy định mức độ đồng thuận của người dân được xin ý kiến tối thiểu cần phải đạt (theo tỉ lệ ví dụ 70-80%) thì bản quy hoạch hay kế hoạch đó mới có giá trị pháp lý. Đây là một trong những nguyên tắc đảm bảo tính dân chủ, công khai theo quy định tại Khoản 6 Điều 35 dự thảo.
Về vấn đề giá đất: theo đại biểu, vấn đề giá đất luôn là vấn đề nóng và đây có lẽ chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến những bức xúc trong xã hội cũng như những vụ khiếu kiện lớn kéo dài.  Luật đất đai 2003 quy định giá đất phải sát với giá thị trường, nhưng làm thế nào và với qui trình thủ tục ra sao để đảm bảo giá đất sát với giá thị trường thì không được rõ ràng minh bạch, tạo cơ hội cho một số cá nhân làm giàu bất chính nhanh chóng trong khi nhà nước và người dân có đất bị thu hồi thì thiệt đơn thiệt kép. Để khắc phục vấn đề này, Dự thảo luật đất đai lần này quy định tại điều 112, điểm c, khoản 1 là giá đất phải phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường. Theo đại biểu, khái niệm “phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường” chỉ là thay câu chữ chứ chưa có gì khác biệt nhiều, chưa minh bạch và chưa thực sự rõ ràng, dễ dẫn đến tình trạng hiểu thế nào cũng được, theo ý chủ quan của con người. Nó sẽ không làm nên sự khác biệt nếu chúng ta không thiết kế được những công cụ có tính khả thi để thực hiện mục tiêu trên.
Từ những phân tích nêu trên, đại biểu đề xuất một số ý kiến về thiết chế mà Dự thảo luật đất đai sửa đổi lần này liên quan đến giá đất, cụ thể như:
- Về tư vấn định giá đất: đây là việc làm hết sức cần thiết, tuy nhiên để việc sử dụng tư vấn định giá đất có hiệu quả thì cần phải qui định tư vấn định giá đất là yêu cầu bắt buộc cho các trường hợp xây dựng, điều chỉnh khung giá đất, xây dựng điều chỉnh bảng giá đất, định giá đất cụ thể hoặc khi giải quyết khiếu nại về giá đất được quy định tại mục a, mục b, khoản 1, điều 115. Quy định như vậy sẽ giúp tránh được sự tùy tiện, thiếu nhất quán của cơ quan nhà nước trong cả nước.
- Về tổ chức tư vấn định giá đất: cần bổ sung quy định về cơ quan nào cấp đăng ký kinh doanh, nguyên tắc hoạt động của tổ chức tư vấn định giá đất.
Đại biểu đánh giá, hạn chế lớn tiếp theo về giá đất của Dự luật là không quy định rõ quy trình, trình tự, thủ tục quyết định giá đất. Chính vì sự thiếu rõ ràng như vậy nên mỗi tỉnh quy định một giá đất, như khảo sát của tổ chức LANĐA chỉ ra: Cùng một khu vực, thậm chí cách nhau một con đường nhỏ, nhưng giá đền bù khác nhau, giá đền bù hoa màu quy định còn bất hợp lý, tiền đền bù không mua nổi một xuất đất tái định cư; đây là một kẽ hở cho việc định giá đất thấp hơn giá thị trường, dễ bị lợi dụng, phục vụ cho lợi ích nhóm, phát sinh khiếu kiện. Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung quy định làm rõ quy trình, trình tự, thủ tục quyết định giá đất vào trong luật.
Góp ý về giám sát của công dân đối với việc quản lý, sử dụng đất đai (điều 199): đại biểu cho rằng, Dự thảo Luật đất đai đã có quy định rất cụ thể về quyền giám sát của người dân tại khoản 1, 2, 3, 4, Điều 199, trong đó nêu rõ đối tượng giám sát là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất, giao đất, cho phép chuyển đổi sử dụng đất... thông qua hình thức giám sát trực tiếp bằng cách phản ánh hoặc gửi gửi đơn kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết hoặc yêu cầu các cơ quan, tổ chức đại diện cho mình thực hiện việc giám sát. Tuy nhiên, về trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc giải quyết còn quy định chung chung, chưa có quy định về thời gian tối đa là bao lâu cho việc xem xét, trả lời kết quả giải quyết những kiến nghị, phản ánh của nhân dân hoặc do cơ quan có thẩm quyền giám sát gửi tới. Như vậy quy định này dễ rơi vào tình trạng hình thức và tùy tiện trong thực hiện. Đề nghị Ban Soạn thảo cần xem xét khắc phục thiếu sót này.
Về đất trồng lúa (điều 134): đại biểu nhất trí với qui định về việc Nhà nước có chính sách bảo vệ đất trồng lúa, nhưng lại băn khoăn về nội dung ở khổ thứ hai của khoản 1, điều 134 quy định: trong trường hợp cần thiết phải chuyển một phần diện tích đất trồng lúa sang sử dụng vào một mục đích khác thì nhà nước có biện pháp bổ sung diện tích đất hoặc tăng hiệu quả sử dụng đất trồng lúa. Đây thực sự là một yêu cầu vừa khó khả thi và dễ trở thành kẽ hở để có người trục lợi. Chúng ta đều biết đất đai bình quân đầu người ngày càng thu hẹp về diện tích vì dân số ngày càng tăng; trong khi trừ đất trồng lúa ra, đất đai còn lại hầu hết là đất xấu hơn làm thế nào ta có thể bổ sung, bù đắp được đất lúa đã được chuyển đổi cho mục đích khác. Nếu không khéo ta lại lặp lại yêu cầu tương tự Trồng rừng thay thế cho các diện tích rừng đã mất đối với các công trình thủy điện. Theo số liệu của Bộ NN&PTNT, trong giai đoạn từ năm 2006-2012, cả nước có 160 dự án thuộc 29 tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ đã chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang xây dựng thủy điện với diện tích 19.729 ha, nhưng cho đến nay diện tích rừng trồng thay thế mới được 735 ha, đạt 3,7% theo yêu cầu. Do đó, đề nghị quy định đảm bảo chặt chẽ phù hợp hơn.

Tác giả bài viết: Đoàn Trọng Hùng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Trả lời cử tri

Chuyên mục cơ quan Dân cử và Cử tri

(video) :

Người tốt việc tốt
Quốc hội
Báo đại biểu nhân dân

THƯ VIỆN ẢNH